ENGLISH

Nghiên cứu trao đổi

Tổng quan pháp luật về bảo vệ môi trường biển Việt Nam

TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ

 

MÔI TRƯỜNG BIỂN VIỆT NAM

                                                                                            Trần Thị Hương Trang

1- Vài nét về thực trạng biển và môi trường biển Việt Nam

 

Việt Nam có diện tích 329.314 km² bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thuỷ, với hơn 3.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, với  lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khoảng trên 1 triệu km². Việt Nam có 3.260km bờ biển với 28/64 tỉnh, thành phố có biển diện tích các huyện ven biển chiếm 17% tổng diện tích cả nước và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số cả nước[1].

 

Biển đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của đất nước. Biển và vùng biển có tiềm năng rất lớn trong chiến lược phát triển kinh tế biển.

 

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế thu được về hàng hải, du lịch, dịch vụ, khai thác thủy hải sản, dầu khí..., Việt Nam  cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường biển. Biển và các vùng ven biển đang có nguy cơ ô nhiễm gia tăng

 

Trước thực trạng đó, việc bảo tồn và phát huy nguồn tài nguyên biển giàu có, bảo vệ môi trường biển Việt Nam có ý nghĩa quyết định. Việt Nam đã xây dựng, phát triển hệ thống các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển. Hệ thống chính sách và pháp luật đó có thể khái quát những đặc trưng lớn như sau:

 

1.      Hệ thống chính sách kết hợp bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia hướng tới phát triển bền vững, được xây dựng từ cấp trung ương tới địa phương và định hướng chiến lược lâu dài.

 

2.      Luật Bảo vệ Môi trường 2005 có những quy định cơ bản quan trọng về bảo vệ môi trường biển cùng với các luật khác có liên quan cũng có những quy định về bảo vệ môi trường biển tạo ra một khung pháp lý toàn diện về bảo vệ môi trường biển.

 

3.      Các quy định chính sách và pháp luật trên góp phần nội luật hóa và thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia.

 

Các đặc trưng trên sẽ được phân tích, đánh giá lần lượt dưới đây. Tuy nhiên, trong đó, Luật Bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành có ý nghĩa trực tiếp và quan trọng nhất đến bảo vệ môi trường biển Việt Nam. Chính vì vậy bài viết này sẽ tập trung đi sâu vào các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005.

 

1. Hệ thống chính sách kết hợp bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia hướng tới phát triển bền vững, được xây dựng từ cấp trung ương tới địa phương và có định hướng chiến lược lâu dài.

 

Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế xã hội biển và bảo vệ môi trường biển Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã nêu rõ  phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển.”

 

 

 

Nhằm triển khai chủ trương trên của Đảng, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.

 

 

 

Tiếp đó, hầu hết các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ven biển đều ban hành Nghị quyết để triển khai Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/02/2007  về Chiến lược Biển 2020. Trong đó hầu hết, các chương trình, kế hoạch đều đề cập đến việc thực hiện bảo vệ môi trường biển. Ví dụ, Quyết định 1624 /2007/QĐ-UBND  của UBND tỉnh Thanh Hóa ngày 01/06/2007 về Chương trình hành động thực hiện Chiến lược Biển cũng xác định một trong sáu nhiệm vụ cơ bản của Chương trình là ”Nhiệm vụ điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường; phát triển khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường biển, ven biển, phòng chống thiên tai”, Quyết định 28/2008/QĐ-UBND ngày 03/04/2008 ban hành kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam 2020 cũng xác định mục tiêu  ”Xây dựng khu đô thị gắn với cảng biển, các khu công nghiệp và dịch vụ; phát triển không gian đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên về thoát nước, bảo vệ môi trường”.... 

 

 

 

Để xây dựng và thực hiện được các chiến lược nêu trên, một loạt các chính sách hỗ trợ cũng được ban hành trước đó như Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 phê duyệt bởi Quyết định Số 47/2006/QĐ-TTg ngày 1/3/2006; Nghị định 101/2007/NĐ-CP ngày 13/ 6/2007 Về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển, Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 phê duyệt bởi Quyết định 158/2007/QĐ-TTg ngày 9/10/2007, Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010 ban hành kèm theo quyết định 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005, …

 

Đặc biệt, Chiến lược bảo vệ môi trường 2010 định hướng đến 2020, môi trường biển đều rất được quan tâm vấn đề bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chiến lược này đã được kết hợp, lồng ghép chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế biển theo quan điểm sử dụng tổng hợp, hợp lý đi đôi với bảo vệ tài nguyên và môi trường biển ven bờ.

 

 

2.      Luật Bảo vệ Môi trường 2005 có những quy định cơ bản quan trọng về bảo vệ môi trường biển cùng với các luật khác có liên quan cũng có những quy định về bảo vệ môi trường biển tạo ra một khung pháp lý toàn diện về bảo vệ môi trường biển

 

Luật bảo vệ Môi trường 2005 xác định hoạt động bảo vệ môi trường biển gồm ba nội dung chính là: i) bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển, ii) Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển, iii) phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển. Đây cũng chính là 3 điều luật chính trong Mục 1, Chương VII, Luật Bảo vệ môi trường 2005.

 

Để điều chỉnh và đảm bảo hoạt động bảo vệ môi trường biển, ngoài các quy định chung mang tính định hướng tại Mục 1, Chương VII, Luật Bảo vệ môi trường 2005 còn có các văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh cụ thể như Luật Thủy sản 2003, Nghị định 109/2004/NĐ-CP về bảo vệ và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.

 

Bên cạnh đó, Luật cũng đưa ra các nguyên tắc đối với bảo vệ môi trường biển tại Điều 55, cụ thể:

 

- Bảo vệ môi trường là một nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển nhằm giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường biển và tăng hiệu quả kinh tế biển.

 

- Phòng ngừa và hạn chế chất thải từ đất liền và từ các hoạt động trên biển; chủ động, phối hợp ứng phó sự cố môi trường biển.

 

- Bảo vệ môi trường biển phải trên cơ sở phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

 

- Bảo vệ môi trường biển phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển phục vụ phát triển bền vững.

 

 Đây là các nguyên tắc mang tính định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường biển. Có thể thấy rõ hoạt động bảo vệ môi trường biển không tách rời hoạt động phát triển kinh tế biển và hoạt động bảo vệ là nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh tế biển.  Nguyên tắc số một này yêu cầu phải được thực hiện ngay chính trong giai đoạn quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển. Một nguyên tắc định hướng nữa là phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên biển là cơ sở cho hoạt động bảo vệ môi trường biển và hoạt động này hướng tới phát triển bền vững.

 

2.1. Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển

 

Nội dung này được quy định tại Điều 56, Luật bảo vệ môi trường 2005 với các hoạt động cụ thể.

 

“1. Các nguồn tài nguyên biển phải được điều tra, đánh giá về trữ lượng, khả năng tái sinh và giá trị kinh tế phục vụ việc quản lý và bảo vệ môi trường biển.

 

2. Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải được thực hiện theo quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên đã  được phê duyệt.

 

3. Hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiên biển phải tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

4. Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính huỷ diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển

 

2.1.2. Đối với quy định về “hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển” hiện nay nhà nước đã ban hành Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010 theo Quyết định số 131/2004/QĐ-TTg ngày 16/7/2004. Mục tiêu của chương trình là bảo vệ, bảo tồn đa dạng thuỷ sinh vật, đặc biệt là các loài thủy sản quý, hiếm, có giá trị khoa học và kinh tế; giữ gìn tính đa dạng, độc đáo của hệ sinh thái thuỷ sinh vật Việt Nam cho hiện tại và tương lai; phục hồi nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, giá trị các nguồn tài nguyên (thiên nhiên và đa dạng sinh học, đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm của ngư dân trong việc tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp.

 

Ngoài Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010 được triển khai chung trên toàn quốc, tại từng khu vực cụ thể còn xây dựng chương trình quản lý dải tổng hợp ven biển như Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định 185/2007/QĐ-TTg ngày 9/10/2007.

 

2.1.3.  Đối với hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiên biển phải tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Những quy định pháp luật có liên quan  đến khu bảo tồn biển trước hết phải kể đến quy định của Luật Thủy sản 2003 và Nghị định 27/2005/NĐ-CP ngày 08/3/2005 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuỷ sản với quy định vê định nghĩa khu bảo tồn biển, Tiêu chuẩn phân loại, Phân cấp tổ chức và quản lý khu bảo tồn biển. Đối với khu bảo tồn vùng nước nội địa được Nghị định 27 coi là nơi được khoanh vùng thuộc các vùng đất ngập nước  và chịu sự điều chỉnh của Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước. Nghị định 109/2003/NĐ-CP điều chỉnh các hoạt động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam bao gồm vùng đất ngập nước có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái, có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia.

 

Gần đây nhất, Chính Phủ đã ban hành Quy chế quản lý các Khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế ban hành kèm theo Nghị định 57/2008/NĐ-CP ngày 2/5/2008, quy định rõ về tiêu chuẩn phân loại, việc tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển các Khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế; trách nhiệm của các Bộ, ngành và các địa phương

 

 

 

2.1.4.     Đối với việc Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính huỷ diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển, điều này cũng đã được quy định tại Luật Thủy sản, 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo Điều 8, Luật Thủy sản, Bộ Thủy sản (hiện nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) có trách nhiệm định kỳ công bố các phương pháp khai thác, loại nghề khai thác, ngụ cư bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng; Chủng loại, kích cỡ tối thiếu các loài thủy sản được phép khai thác, mùa vụ khai thác; Khu vực cấm khai thác và khu vực cấm khai thác có thời hạn là căn cứ để xác định biện pháp, phương tiện, công cụ có tính huỷ diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển.

 

2.2.           Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển

 

Nội dung này được quy định tại điều 57. Theo đó, để kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường biển Luật Bảo vệ môi trường 2005 yêu cầu:

 

2.2.1. “Nguồn thải từ đất liền, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, khu dân cư ven biển, trên biển, trên đảo phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển” (Khoản1, Điều 57)

 

2.2.2. “Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác trên biển phải được kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường”.

 

Các quy định này cũng được quy định cụ thể lồng ghép với các quy định chuyên ngành tại Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005, Nghị định 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 về quản lý cảng biển và luồng hàng hải, Nghị định 115/2007/NĐ-CP ngày 5/7/2007 về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Nghị định số 62/2006/ND-CP ngày 21/6/2006 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hàng hải, Nghị định số 39/CP ngày 10/6/1998 về xử lý tài sản chìm đắm ở biển, Thông tư 2592/Mtg ngày 12/11/1996 của Bộ khoa học, công nghệ và môi trường về kiểm soát ô nhiễm biển do tàu thuyền và phương tiện vận chuyển đường sông…

 

2.2.3. “Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc hại khác được sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử dụng phải được thu gom, lưu giữ trong thiết bị chuyên dụng và phải được xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại”.

 

Việc thực hiện quy định này cần xem xét thêm Luật dầu khí ngày 06 tháng 7 năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí ngày 09/6/2000 và Nghị định 48 /2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 Quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí  và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Việc xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại phải được thực hiện theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 và Thông tư 12/2006/TT-BTNMTngày 26/12/2006 Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.

 

2.2.4. Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

2.3. Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển

 

Do mức độ nghiêm trọng của sự cố môi trường trên biển, nên ngoài Mục 1, Chương 9  điều chỉnh về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường nói chung, Luật Bảo vệ môi trường tiếp tục giành Điều 58  để quy định về Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển với các nội dung cụ thể như sau

 

2.3.1. Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản, chủ phương tiện vận chuyển xăng, dầu, hoá chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển phải có kế hoạch, nhân lực, trang thiết bị bảo đảm phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường.

 

Riêng đối với hoạt động dầu khí là hoạt động diễn ra phổ biến trên biển và nguy cơ sự cố môi trường do hoạt động dầu khí gây ra rất lớn nên Nghị định 48 /2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 Quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí có những quy định rất cụ thể nhằm phòng ngừa sự cố do hoạt động dầu khí.

 

Đối với các hoạt động khác, Bộ Luật Hàng Hải và các Nghị định hướng dẫn thi hành quy định rất cụ thể đối với các loại hình vận chuyển hoá chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển phải đảm bảo an toàn, phòng ngừa sự cố xảy ra.

 

2.3.2. Lực lượng cứu nạn, cứu hộ quốc gia, lực lượng cảnh sát biển phải được đào tạo, huấn luyện, trang bị phương tiện, thiết bị bảo đảm ứng phó sự cố môi trường trên biển.

 

2.3.4. Chủ phương tiện vận tải, kho lưu giữ hàng hoá trên biển có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải có hình thức thông báo cho các lực lượng quy định tại khoản 2 Điều này và tổ chức, cá nhân liên quan khác được biết và có phương án phòng tránh sự cố môi trường.

 

2.3.4. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ven biển trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phát hiện, cảnh báo, thông báo kịp thời về tai biến thiên nhiên, sự cố môi trường trên biển và tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả.

 

Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu kèm theo quyết định 103/2005/QĐ-TTg ngày 12/5/2005., quy định rõ nội dung hoạt động, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu trên phạm vi cả nước.

 

3.             Các quy định chính sách và pháp luật trên góp phần nội luật hóa và thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia.

 

Để ngăn chặn ô nhiễm thực hiện bảo vệ môi trường biển chung, rất nhiều các văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường hoặc liên quan đến bảo vệ môi trường được cộng đồng quốc tế xây dựng và được các quốc gia ký kết, Việt Nam đã phê chuẩn các điều ước quốc tế khác nhau nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, ví dụ như sau:

 

Công ước Marpol 73/78 về ngăn chặn ô nhiễm biển do tàu gây ra (Việt Nam tham gia ngày 29/8/1991);

 

 

 

- Công ước quốc tế về an toàn tính mạng trên biển SOLAS 1974 (Việt Nam tham gia ngày 18/3/1991);

 

 

 

- Công ước Luật biển 1982 (Việt Nam tham gia ngày 16/11/1994);

 

- Công ước về các quy tắc quốc tế phòng tránh đâm va trên biển COLREG 1972 (Việt Nam tham gia ngày 18/12/1990);

 

- Công ước về tiêu chuẩn cấp chứng chỉ cho thuyền viên 1978/1995 (STCW) (Việt Nam tham gia ngày 18/3/1991);

 

- Công ước về kiểm soát và vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng BASEL 1989 (Việt Nam tham gia ngày 11/6/1995);

 

Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhấn chìm chất thải hay các chất khác gây ra (còn gọi là Công ước Luân Đôn);

 

Công ước Quốc tế về sự sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu

 

Công ước Quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969

 

 

Kết luận

 

Hệ thống pháp luật và quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường  đã có nhiều tiến bộ, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản có liên quan đã được ban hành tạo ra một hệ thống văn bản pháp luật tương đối toàn diện về bảo vệ môi trường biển.

 

Tuy nhiên, trên thực tế của hiện trạng môi trường biển cho thấy việc triển khai và thực thi các quy định chính sách pháp luật có nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân. Trong đó có việc khó khăn trong giám sát thực thi pháp luật trên biển, khi kiểm tra, kiểm soát đối với các đối tượng vi phạm thuộc các lĩnh vực hàng hải, nghề cá, vận chuyển hàng hóa..., thì bằng chứng, dấu hiệu vi phạm thường dễ xác định qua các giấy tờ, bằng lái, giấy phép kinh doanh và hàng hóa vận chuyển hiện có trên tàu. Nhưng đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực môi trường biển như xả các chất thải dầu cặn, nước thải có dẫn dầu, đổ rác và các chất thải độc hại khác, thì rất khó phát hiện và khó có được bằng chứng xác thực. Bởi vì đối tượng vi phạm thường lợi dụng đêm tối, khi không có tàu thuyền qua lại hoặc đang hành trình ngoài biển xa. Vì vậy việc phát hiện các hành vi vi phạm, thu thập các chứng cứ để chứng minh làm cơ sở pháp lý buộc đối tượng phải thừa nhận, là rất khó. 

 

Giải pháp chung đặt ra là Việt Nam cần tập trung đầu tư vật chất, nhân lực và công nghệ hiện đại cho các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc kinh tế biển để hạn chế ô nhiễm; đồng thời cần phải nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực quản lý bảo vệ môi trường biển tốt hơn. 

 

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
 

định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích - sự tích hợp vào luật pháp quốc gia và trư

PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG NGOÀI TÒA ÁN – THỰC TIỄN ÁP DỤNG CỤ THỂ

TIẾP CẬN NGUỒN GEN VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH – TỪ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ĐẾN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trách nhiêm pháp lý và bồi thường trong lĩnh vực môi trường (đối với an toàn sinh học) theo quy định

TIẾP CẬN NGUỒN GEN VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH THEO LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC 2008

Hợp đồng kinh tế hay hợp đồng thương mại

 
 
 
NGHIÊN CỨU DỰ ÁN
TIN TỨC
CƠ SỞ DỮ LIỆU
ĐỐI TÁC
Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và chính sách phát triển bền vững
Trụ sở: Số 20 tổ 26 Trung Hòa - Cầu Giấy - Hà Nội.
Văn phòng: P 401, Tòa nhà A, Nguyễn Tuân, Quận Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
Điện thọai: (84- 4) 6.2852660 - Số Fax: (84- 4) 6.2852660 Email: tranglpsd@gmail.com - Website: http://l-psd.org

Xây dựng và phát triển hệ thống bởi Wecan-Group.com